Làng Kế Môn

Có nghề kim hoàn-Có nước mắm ngon tuyệt vời

Archive for the ‘Họ đã viết về làng ta’ Category

Phố bún bò cao nguyên

Posted by kemonnet trên 25/03/2010

Trong lòng thành phố suơng mù này có một con đường bán bún bò Huế, mà chính tay các o, các mệ người Huế chế biến. Đường Ánh Sáng nhưng nhà này có thể vói qua bắt tay nhà kia, lót bằng đá chẻ, chật chội, xe gắn máy phải lạng lách nhau để vượt qua.
Về nguồn gốc của con đường Ánh Sáng. Nguyên vào những năm 30 (thế kỷ 20), nhiều người Huế thuộc 2 làng Kế Môn (Phong Điền) và Phú Bài (Hương Thuỷ) do nhiều điều kiện khác nhau đã đến Đà Lạt lập nghiệp tại khu vực chợ Cây. Khởi đầu là những căn nhà che tạm, sinh sống chính bằng nghề trồng rau ở khu vực đất phía sau, nơi dòng nước thoát ra từ hồ Xuân Hương đi ngang trước khi đổ xuống thác Cam Ly.

Bún bò của Đà Lạt

Mãi đến năm 1952, khu vực chợ Cây mới được ông Cao Minh Hiệu, thị trưởng Đà Lạt lúc bấy giờ đặt tên: Ánh Sáng theo phong trào Ánh Sáng của nhóm Tự lực văn đoàn. Hiện ấp Ánh Sáng có trên 500 hộ dân gốc Huế, lần lần đã dựng lên một con phố lừng danh món thuần tuý Huế và pha chế cũng giống như bạn đang ăn một tô bún bò Huế ngay tại thành phố Huế. Dĩ nhiên là lẫn lộn trong con phố bún bò Huế cũng có vài món ăn lạ cho khách chọn lựa như mì Quảng, bún măng vịt, phở… nhưng hiếm. Còn món bún bò Huế thì lẫy lừng thành thương hiệu, mỗi hàng đều có cái tên riêng cho khách biết mà bước vào.

Do con đường nhỏ, nên vào buổi sáng hoặc sẩm chiều, khách muốn thưởng thức tô bún bò Huế do chính người Huế nấu phải tìm chỗ gởi chiếc xe, bởi mỗi quán chỉ có thể để được bốn chiếc là hết. Mỗi quán bún bò đã là một thương hiệu: Út Vân, O Hoà, O Quả, Dì Lan, Dì Luống, Dì Chi, Dì Bé, Cô Lộc… Có nghĩa, quán được đặt theo tên người chủ – cách rất Huế.

Phố nhưng quán bài trí như nhau, vài chiếc bàn, đất trống thì kê lấn ra ngoài cho khách ngồi. Và bạn có thể ghé bất cứ quán nào bạn thích, hoặc do thuận đường, thuận chỗ để xe, bởi chất lượng tô bún tại đường Ánh Sáng này giống nhau. Tựa như các bà chủ quán ở đây cùng xuất thân từ một lò nấu ăn.

Nước sông Hương hay nước hồ Xuân Hương

Cách chế biến tô bún bò là bí quyết riêng, mùi vị của tô bún, nước dùng khi đem ra cho khách, trong đêm Đà Lạt se lạnh khiến bụng cồn cào. Bàn chế biến ngay lối đi, khách có thể nhìn thấy thùng nước dùng đang sôi liu riu, tỏa thơm. Khách vào bàn ngồi có thể yêu cầu loại giò theo ý thích: giò nạc, giò khoanh, giò sụn …

Tô bún bò Huế ở đây không cầu kỳ, màu nước dùng sóng sánh chút màu, ít hành lá rắc lên, tất nhiên không thể thiếu một miếng huyết chín. Những thứ tê môi trên bàn, một lọ ớt bột khô, một lọ ớt sim ngâm mắm cho khách vừa nêm theo khẩu vị của mình. Điểm khác với bún bò bán tại Huế là thiếu những trái ớt xanh sừng cong bày trên chiếc đĩa như thử sự chịu cay cùng thực khách. Tuy nhiên, chất lượng như ăn ở Huế. Khác chăng là tô bún lấy nước sông Hương chế biến, tô bún bò Đà Lạt lấy nước hồ Xuân Hương.

Sáng hay chiều, con đường mang tên Ánh Sáng ấy giờ đây thành “Con đường bún bò” – điểm dừng chân của người địa phương, khách du lịch, chen tìm một chổ ngồi của một o hay một dì nào đó.

Theo Sài Gòn Tiếp Thị
http://www.namgiao.vn/home/detail.php?iCat=79&iData=118&module=news&page=5

Advertisements

Posted in Họ đã viết về làng ta | Leave a Comment »

RÁNG NHỚ LẠI NHỮNG GÌ SẮP QUÊN

Posted by kemonnet trên 25/03/2010

» Tác giả: Sagant Phan
» Dịch giả:
» Thể lọai: Biên khảo
» Số lần xem: 2871

1. RÁNG NHỚ LẠI NHỮNG GÌ SẮP QUÊN

Những gì ở gần ta hàng ngày, ta thấy quen và không cần nhớ. Nhưng khi xa rồi thì ráng nhớ cũng như không. Hàng ngày đi vào trường học, uể oải gần chết, nhất là sau những ngày nghỉ lễ dài sướng ghê đi ngang qua sân trường thân yêu. Có ai nhớ lại trên sân trường của mình có mấy cây Phượng? Dãy lớp mình học có bao nhiêu cửa sổ tổng cộng lại? Rồi nói đến những con đường quen thuộc của nhà mình ở, quẹo ra ngoài đường thì có mấy cây cột đèn đường? Nguyên Quận mình ở có đường nào ngắn nhất? dài nhất?

Dân Hà Nội thường ai oán ngậm ngùi về Thăng Long, Hà Thành… nhưng họ có thể kể hết trọn tên 36 phố phường của họ hay không? Đi xa hơn nữa thì tên Hà Nội kể từ đó đến giờ được bao nhiêu tên?

Thăng Long-Hà Nội là kinh đô lâu đời nhất trong lịch sử nước Việt. Mảnh đất địa linh nhân kiệt này trước khi trở thành thủ đô của nước Đại Việt dưới thời nhà Lý (1010) thật sự là quận khá lớn của nhà Tùy (581-618), rồi đến nhà Đường (618-907) mà kinh đô của Trung Quốc rất là xa lắc xa lơ. Sách vở mất tứ tung, tìm kiếm cũng đủ… vào nhà thương tâm thần cho mà coi. Vậy nói xa nói gần mình có thể nói tên Hà Nội theo giấy tờ và theo miệng dân chúng. Như hiện nay giấy tờ thành phố ghi là thành phố Hồ chí Minh, nhưng tôi khoái gọi tên của tôi là Sài Gòn được không?

1.- Tên Giấy tờ:

1a.- Long Đỗ: truyền thuyết cho rằng Thái Thú Cao Biền (nhà Đường) khi đắp Thành Đại La (vào năm 866) thấy thần nhân hiện lên, rồi xung tên họ là Long Đỗ…. Do đó sử sách còn gọi là thành Long Đỗ. Danh từ này nếu truy nguyên ra từ khi đời vua Trần thuận Tông (năm thứ 10, gọi là năm Quang Thái). Hồ quý Ly muốn soán ngôi vua nên dự định dời kinh đô về đất An Tôn (phủ Thanh Hóa) thì Khu mật Sứ Nguyễn Như Thuyết dâng thư can va nói: “Ngày xưa nhà Chu, nhà Ngụy dời Kinh đô thì muôn sự chẳng lành. Nay đất Long Đỗ ta, có núi Tản Viên, có sông Lô Nhị (tức sông Hồng ngày nay), núi cao sông rộng, đất bằng…” Cho thấy tên HàNội được mọi người gọi là Long Đỗ từ thới Cao Biền đến nhà Trần hiện nay.

2a.- Tống Bình: Đời nhà Tùy (581-618) trước đó nơi hành chánh cai trị của chúng là vùng Long Biên (thuộc Bắc Ninh ngày nay) bị dịch tễ và sốt rết, nên chung quyết định dời về Hà Nội mà chúng gọi là Tống Bình.

3a.- Đại La: đây cũng là tên một thành trì rất kiên cố, xây bằng đá vôi và đá ong, cùng đá tảng từ Cao Biền khởi công. Thành quách này có 3 tầng lớp. Ngoài là thành Đại La, giữa là triều đình Kinh Thành, trong cùng là thành sơn máu tía (màu của vua chúa: Tử cấm thành) dành cho vua và gia đình.

4a.- Thăng Long: tên này nghe khoái nhất, nghĩa là rồng bay lên Trời. Vào năm Canh Tuất (1010) vua từ thành Hoa Lư, dời đô ra thành Đại La, thuyền vua tạm nghỉ dưới thành, thì thấy rồng vàng hiện lên quanh thuyền vua, rồi bay lên trên không. Nên vua gọi tên là thành Thăng Long. Lúc đó nhà cửa không trên 100 nóc gia?

5a.- Đông Đô: Trong sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi như sau: “Mùa hạ tháng 4 năm Đinh Sửu chọn phó tướng Lê Hán Thương (sau này là Hồ hán Thương) coi phủ đô hộ là Đông Đô. Đến đời nhà Nguyễn chú thích: “Đông Đô là Thăng Long, Tây Đô là Thanh Hóa”.

6a.- Đông Quan: do quan quân nhà Minh cai trị chúng ta, gọi Đông Quan có nghĩa là nơi cửa quan phía Đông. Năm 1408 quân Minh đánh bại Hồ quý Ly đóng đô ở thành Đông Đô, họ sửa thành ĐôngQuan khi là tờ tấu về triều Minh bên tàu.

7a.- Đông Kinh: tên này nghe quen như tên Nhật Tokyo vậy, nhưng tên này có trước tên Tokyo. Năm 1427 vua Lê Lợi từ cung điện bằng tranh ở Bồ Đề, vào đóng đô ở Đông Kinh và đại xá tội thiên hạ, đặt tên nước là Đại Việt, niên hiệu là Thuận Thiên.

8a.- Bắc Thành: Đời TâySơn Nguyễn Huệ (1787-1802) vì kinh đô đóng ở Phú Xuân (Huế) nên vua gọi Thăng Long là Bắc Thành.

9a.- Thăng Long: vua Gia Long quyết định đóng đô tại Phú Xuân (Huế), cử Nguyễn văn Thành làm Tổng trấn miền Bắc, và chuyển Bắc Thành ra Trấn Thành, và vua cho đổi chữ Long (bộ Rồng ra chữ Long bộ Thịnh, vì vua cho rằng không được xài chữ Long là Rồng dành riêng cho vua mà thôi.)

10a.- Năm 1831 khi Minh Mạng lên ngôi, sửa dời toàn nước cho hớp cách, vua đem kinh thành Thăng Long cũ hợp với mấy phủ huyện chung qunanh gần đó như huyện Từ Liêm, phủ Ứng Hòa, phủ Lý Nhân, phủ Thường Tín mà lập thành tỉnh mới.Vua gọi tên mới là Hà Nội.

Nghĩa là tên Hà Nội có khai sinh vào năm 1831 mà thôi, còn Sài Gòn của chúng ta tên lâu đời hơn.

Tên nhân gian gọi:

Câu ca dao của người HàNội nói rằng:

Ta đây: Chẳng thơm cũng thể hoa nhài

Dẫu không thanh lịch, cũng người Tràng An”

Phụng Thành: đầu thế kỷ 16, Trạng Nguyễn giãn Thanh (dân Bắc Ninh) có bài phú rất nổi tiếng tên là: “Phượng Thành xuân sắc phú” nói về cảnh đẹp của ThăngLong.

Long Biên: nơi cai trị của quan lại người Tàu, đời hán, Ngụy Tấn, Nam Bắc triều đóng tại Giao Châu (tên nước Việt của ta trước đó).Vua Tự Đức có câu: “Long Biên tài hướng.”

Long Thành: nhà thơ nổi tiếng Thăng Long bấy giờ viết bài ca ngợi vua Quang Trung chiến thắng vẽ vang tại Đống Đa làm bài thơ đầu đề là: Long Thành quang phục kỹ thực. Danh từ sau này là Quang Phục người ta đặt một tên là Quang Phục Hội là lấy từ điển tích này.

Hà Thanh: nhân vụ quân Pháp bị đầu độc, người ta gọi là vụ án Hà Thành đầu độc.

Người ta còn gọi Thăng Long là Kẻ Chợ (trong sách ghi của những vị giáo sĩ ngoại quốc đi truyền đạo, thường ghi là người kẻ Chợ (đó là Thăng Long vậy)

Thượng Kinh: lấy từ danh từ những người kinh kỳ. (như thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì phố Hiến)

Nói về Quảng Trị:

Mặc dầu mối tình của tôi sớm nở tối tàn, chưa đầy 3 năm thì tình… đội nón ra đi. Nhưng tôi vẫn nhớ hoài mối tình đó, lỗi tại Trời. Nếu lúc đó tôi trúng số cá cặp thì xong rồi, mua giấy hoãn dịch vì bất lực, rồi lấy nàng làm vợ, rồi chiều chiều dẫn nàng ra Chợ Cũ mà mua vàng cho nàng đeo đỏ tay, còn mình thì vô Phú Thọ đánh cá ngựa lựa tên Tuyết Tuyết Hồng Hồng là có lúc trúng cá. Tôi thì nói vàng chợ Cũ tốt hơn vì ba Tàu làm mà, nàng thì nói vàng ở gần chợ Bến Thành, tiệm 2 con cọp là chánh gốc vàng của làng… Cái Môn, Đại Lược.

Số không trúng, không giàu, và không bất lực nên đủ sức khỏe để đi quân dịch ngon lành chưa? Mất nàng, đánh giặc không sợ chết thế mới oai không? Nàng nói nhiều về làng của nàng ở Quảng Trị tên là Cái Môn hay là Kế Môn? Nghe Cái Môn thì có lý hơn, vì quê tôi xuống miệt Vĩnh Long rồi đến làng Cái Mơn gái đẹp mơm mỡn thấy muốn trốn quân dịch luôn.

Làng Kế Môn, thuộc huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên, Huế, nghề làm kim hoàn nổi tiếng trên 300 năm nay. Vị tổ của làng là ông Cao đình Độ (người làng Cẩm Tú, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa). Thợ làm vàng Kế Môn từng được vua Quang Trung rồi triều đình Nguyễn trọng dụng. Họ để lại biết bao nhiêu công lao khó nhọc và tay nghề tinh xảo của họ khắp nơi, trên vách tường, trên những lọng, những món đồ trang sức cho triều đình và gia quyến của Vua. Chính họ đã làm ra một cây gọi là: “Cành Vàng Lá Ngọc” để kế bàn làm việc của vua Minh Mạng.

Làng Kế Môn dài gần 2 cây số, tựa lưng vào chân động cát trắng phía sau, ngăn cơn gió độc của gió Lào thổi về, chặn ngọn sóng dữ biển Đông. Trước mặt làng là cánh đồng chua mặn trãi dài ra phá Tam Giang. Mỗi năm dân làng cấy cày rất cực nhọc một mùa lúa không đủ ăn mà thôi. Làng dựng nhà, lập vườn, dựng từ đường, văn chỉ, miếu mạo, đình chùa. Tất cả đều phải hướng về phía Đông Nam (theo như thầy địa lý người Tàu quả quyết như vậy) lấy Trường Sơn làm án. Làng cách xa đường sắt, đường bộ và cách kinh thành Huế chừng 40 cây số ngàn. Một làng quê rất bình thường như trăm ngàn làng quê nước Việt, nhưng gây một dấu ấn ngàn đời không phai.

Để lại tiếng thơm tỏa khắp xứ đàng Trong, kể tử Kẻ Chợ (Hà Nội/ miền Bắc) suốt thời gian lịch sử, chiều dầy lên đến hơn 300 năm. Đó là do công của Người và Nghề của làng Kế Môn.

Dân thợ vàng Quảng Trị đều thờ ông làm tộ thợ vàng, sách gia phổ nói về ông như sau:

Vào cuối đời Võ Vương Nguyễn phúc Khoát, làng Kế Môn có thêm một đơn vị gia cư mới, mà gia chủ là Cao đình Độ, 1735, từ làng Cẩm Tú, huyện Cẩm Thũy, tỉnh Thanh Hóa di cư vào. Khin ông đến làng Kế Môn thì trong mình ông là có một tay nghề đã cao cấp rồi. Theo nội quy của làng, thì những cư dân mới đến phải làm công quả cho làng đúng 3 năm thì làng mới xét đơn.

Công quả gồm: giết heo, gánh nước, rửa nhà việc, đắp con đường, trồng cây cho nhà làng, rồi phải khiêng lọng cho chức sắc làng thì toàn thể gia đình mới được làng chấp thuận cho vào làng.

Nhưng làng thấy Ông Độ giỏi về nghề làm vàng nên phá lệ cho phép ông vào thẳng từ ngày đầu tiên và gia đình 25 người được miễn phu phen tạp dịch với điều kiện là phải dạy làng làm nghề Vàng. Nói tóm lại, từ một người xa lạ, vào thẳng thành. Thầy cũa làng luôn. Từ đây làng phải nghe ông mà mài dao để tách vàng, đốt bể lửa để thổi vàng, dùng bùa cây mà nện nhựng miếng vàng mỏng. Coi vậy còn cực hơn gánh nước, rửa sân làng nữa. Nhưng sau đó sẽ thành thợ giỏi về vàng và Vua Chúa không thình lình bắt đi đánh giặc ngoài trận tiền. Cái nào sướng hơn? Và khi trở thành thợ giỏi thì chính vua hay Chúa còn cho người ra thăm hỏi khúm núm chừng nào cái khay cái kim giắt tóc của hiền thê ta xong? Oai biết chừng nào.

Oâng Cao đình Độ thường tâm sự: “vốn xưa ông chỉ rành nghề đồng, nghề giỏi là làm chuông làm trống cho chùa đâu có oai, chùa nghèo làm xong cai chuông đồng thì hết tiền thợ đói là cái chắc. Rồi xoay làm thợ thiếc, bịt khay chén, vá nồi mâm cũ của vài gia đình có ăn, thợ nghèo vẫn hoàn nghèo. Còn nghề làm vàng thì phải qua tận bên Tàu mới hy vọng, nhưng thợ vàng bên Tàu đâu có truyền nghề cho dân Á Nam dành? Để học được nghề kim hoàn, ông Độ phải lên kinh đô Thăng Long mới được, muốn vào tiệm kim hoàn của người Tàu là một chuyện không phải dễ gì… Họ giấu nghề cho đến người con gái ruột của họ cũng không được học mà. Vậy thì phải làm sao? Oâng Độ xin vào một chân gánh nước, thổi lò, vì nghề kim hoàn rất cần đến thủy và hỏa mới động được kim, phải biết chất sinh khắc của vàng, bạc, cũng phải biết cách pha trộn chất đồng vào vàng bao nhiêu phân thì vàng mới rực lửa được… Nhưng kỹ thuật khó nhất là cách móc khoét khuôn, chế tạo dụng cụ đồ nghề bằng tay khéo của mình, rồi phải biết trình bày mẫu hàng cho đặc sắc, như phải biết đánh dây chuyền, biết cách lộn vòng những miếng vàng nho nhỏ cho đẹp… Móc khoét khuôn theo mặt trái, khi đóng dát vàng bạc vào thì gỡ ra mới thành mặt phải, nổi cộm v.v… Móc khoét khuôn xem như đi được nửa đoạn đường. Rồi phải biết cách cấm kỵ về nghề kim hoàn, ăn thức ăn gì mà vàng sẽ bị dễ hư dễ đứt… Đó gọi là kiêng kỵ của nghề kim hoàn mà người Trung Hoa rất dấu kỹ, có nhiều học trò rất khéo tay, nhưng không biết kiêng kỵ thì vàng đem ra khỏi khuôn rất dễ hư màu. Oâng Độ với 9 năm ròng rã từ culi, đến thợ sai bảo, rồi thợ phụ, rồi thợ chánh nhờ tánh tình siêng năng, nhất là không có lòng tham thì chủ rất hoan hỉ mà dạy người thợ khác chủng tộc với mình. Người chủ đã thử lòng tham của ông Độ rất nhiều lần. Khi học xong nghề kim hoàn của một tiệm kim hoàn người Tàu tại Kinh Đô Thăng Long, thì thời gian sau chủ tiệm qua đời, trước khi mất có nhờ ông đưa dùm hài cốt mình về Tàu tại Long Châu (gần Thượng Hải bây giờ), nơi đây ông dược người Hoa thương mến dạy cho ông nhiều kỹ thuật tinh xảo mà tại Thăng Long chưa có được.

Oâng Độ trở về làng Cẩm Tú (làng này rất gần thành tây Đô nhà Hồ), đưa cả gia quyến vào đàng Trong lập nghiệp, rồi mở lớp dạy nghề tại làng Kế Môn (đã nói phần trên). Oâng Cao đình Độ còn có người con trai trưởng rất khéo tay tên là Cao đình Hương giúp sức. Rồi tất cả làng Kế Môn đều là học trò của ông hết. Làng này còn gọi tục danh là làng Kim Hoàn hay làng Thợ Vàng xứ Kế Môn/ Quảng Trị. Đến dưới triều tây Sơn, cha con ông Độ được vua Quang Trung vời vào cung / kinh đô Phú Xuân dạy cho thợ kinh đô của vua, rồi ông được lập làm chủ soái đội “Ngân Tượng ” (nghĩa là đội chuyên nghề làm vàng cho triều đình Tây Sơn), ông được chức Lãnh Binh coi hơn 100 tay thợ. Sau khi Quang Trung mất và triều đại Nguyễn Aùnh lên, tất cả ngành nghề có liên quan đến vua Quang trung đều bị vua Gia Long tru lục, đày ải riêng ngành Ngân Tượng vua vẫn giữ nguyên, được cấp thêm lương bổng và hậu đãi hơn nữa. Vì lúc này sứ giả nhà vua sang Tàu nườm nượp để xin xỏ vua Tàu, nên những món hàng kim hoàn biếu xén không thể nhìn thấy tô kệch, nhà quê được.

Năm 1810 ông Cao đình Độ qua đời, năm 1821 ông Hương cũng qua đời triều đình nhà Nguyễn cho cử hành nghi táng rất long trọng, cho đất chôn gần tây nam kinh thành (tại Aáp Trường An), rồi được phong là Đệ Nhất Tổ Sư Kim Hoàn nước Việt, ông Hương được phong là đệ Nhị Tổ Sư Kim Hoàn nước Việt, một người tay thợ giỏi khi chết được phong tặng là điều vô cùng khó thấy trong triều đại vua chúa từ trước đến giờ. Rồi hàng năm vua ra lệnh cho lấy ngày mồng 7 tháng 2 (âm lịch) làm giỗ Đệ Nhất, và ngày 27 làm giỗ Đệ Nhị Tổ Sư. Trước đây những người con cháu từng học qua nghề của Oâng đều có hình thờ ông khắp nơi trên nước Việt hay những người hành nghề Kim Hoàn cũng thờ hình ảnh của ông. Rồi họ lập một nhà thờ tổ Kim Hoàn gần chùa Diệu Đế (phường Phú Cát, Huế) để tưởng nhớ công đức khai sáng nghề kim hoàn nước Việt không thua kém nghề kim hoàn của người Tàu bên cố quốc.

Dưới bàn tay mềm mại của Oâng thì thỏi vàng vô tri giác sẽ biến hình thành một con sư tử hay một con Rồng vươn mình chực bay lên với vi vẩy lóng lánh trên ánh sáng đèn hay ánh sáng Thái Dương… Với 30 năm dạy nghề, 2 Vị đã tạo trên ngàn người thợ giỏi tinh xảo và hàng ngàn người này lại dạy con cháu đời sau liên tiếp kế truyền mãi. Thử nhìn trên Thế Miếu, Phủ Điện, Chùa Chiền, những chữ Vàng trước cổng Ngọ Môn, các hoành phi bửu tán, câu đối trong điện Thái Hòa, nhủ vàng bịt bạc ngai vua ghế chúa, ấn triện, tráp văn, giày hài, áo mủ cân đai, tiền Phi Long Đai Hạng (sẽ nói kỳ sau), làm Kim sách (của vua Minh Mạng cho con cháu trực hệ Minh Mạng ), làm Ngân Sách (cho con cháu trực hệ dòng Gia Long). Cây vàng lá ngọc, khí tự thờ cúng các miếu đường lăng vua. Rồi những món trang sức cho các cục cưng của vua chúa v.v…

Ngày nay với Hiệp Hội Kim Hoàn mà người Kế Môn làm đầu não có lời thề trước khi nhập môn, vậy đố bạn lời thề thế nào? Xin thưa “trước Tổ Sư cấm làm vàng giả. Và nếu thợ nào mở tiệm làm vàng, ngoài giấy phép hành nghề của nhà nước, thì anh ta phải có giấy chứng nhận của Hiệp Hội Kim Hoàn Kế Môn thì anh ta mới được người ta Tín vì anh đã có lời thề trước bàn thờ Nhị Vị Sư Tổ rồi.

Tôi đã thấy tiệm vàng hành nghề tại Pleiku (gần rạp hát Diệp Kính) cũng là người Quảng Trị Kế Môn, rồi tại Saigon (gần cửa Đông chợ Bến Thành ) có tiệm vàng 2 con cọp (mà lúc nhỏ tôi leo nhưng vì lưng cọp dốc và sơn vàng trơn láng nên tôi té dập mũi, rồi còn về bị ăn đòn nữa chớ) đó là tiệm vàng tên là Thế Năng, Thế Tài cũng dân Kế Môn. Hiện nay tại thành phố Saigon có hơn 2000 tiệm kim hoàn, mà hơn đến 1700 tiệm tiệm là người làng Kế Môn rồi.

Tại nhà thờ họ Phan (Kế Môn) Oâng Hoàng Điệc (người tinh thông Hán Việt và Pháp, giữ chức ký lại cho làng chuyên ghi những gia phả con cháu trong làng cùng làm hộ tịch trước năm 1945 họ truyền tụng vàng rất nhiều, rất tốt, rất đúng phân lượng ngày xưa là của ông Viên Hạ nhưng đặc biệt làng Kế Môn tuy vang danh thiên hạ, nhưng không một con cháu nào đô đạt làm quan được hết, nhưng ngày nay họ xuất dương ra hải ngoại thì địa lý phong thủy làng Kế Môn thay đổi rồi, có người đậu kỹ sư, Bác Sĩ, Dược Sĩ nhưng tất cả đều quên hết nghề tổ. Khi học nghề tổ cho dù 1 ngày thì sẽ không thành danh đỗ đạt đâu, và nếu học nghề vàng thì luôn luôn không nghèo. Kỳ sau tôi sẽ nói đến vàng nguyên chất của Quảng Trị, mà người Chàm để lại, tôi sẽ nói đến những tinh vàng hiện khi trăng sáng ngày rầm, và cách lấy khi tinh vàng hiện lên. Chuyện này không phải đùa, mặc dầu người Kế Môn hay những người học vàng từ người Kế Môn ở tại đây rất nhiều (trong nước hay tại hải ngoại). Nói một chuyện không có đối với nguời có nghề Vàng là chuyện không phải dỡn chơi. Vâng kỳ sau tôi sẽ nói (có thể hỏi anh Thinh Quang, nhà học giả, nhà văn lão thành có biết phần nào câu chuyện tinh vàng hiện lên khi trăng rầm.)

Sagant Phan

2003-11-15 10:48:30

http://vantuyen.net/index.php?view=story&subjectid=8541

Posted in Họ đã viết về làng ta | Leave a Comment »

“ Thư viện làng” ở Thừa Thiên Huế

Posted by kemonnet trên 25/03/2010

Nằm ở khu vực Ngũ Điền, làng Kế Môn (thuộc xã Điền Môn) được xem là vùng sâu, vùng xa của huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Nhưng lâu nay, người dân ở làng lại không thiếu nguồn sách báo để đọc. Tất cả là nhờ vào “thư viện của làng” duy nhất của toàn tỉnh Thừa Thiên Huế.

Trong không gian rộng hơn 400 m2, gần 10 năm nay, ngôi nhà rường gần trăm năm tuổi ở làng Kế Môn đã trở thành trung tâm thư viện của làng với nguồn tư liệu phong phú, vào khoảng hơn 2000 đầu sách báo các loại. Thư viện này được mở ra nhằm đáp ứng nhu cầu đọc sách, nghiên cứu của người dân và các em học sinh trong làng và các vùng lân cận.

Em Võ Thị Hạnh, học sinh trường THCS Điền Môn, Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế cho biết: “Thư viện gần nhà nên rất tiện cho em trong việc tham khảo nhiều loại sách, nhất là trong những ngày nghỉ hè rảnh rỗi”.

Còn theo anh Trần Đăng Lý, một người dân trong làng: “Khi có thư viện này, hàng ngày tranh thủ thời gian rảnh, những người nông dân chúng tôi lại đến đây đọc sách báo về nông nghiệp, tìm tòi, nghiên cứu, tiếp thu những công nghệ mới để góp phần phát triển nông nghiệp của địa phương mình”.

Người góp công không nhỏ trong việc thành lập địa chỉ tin cậy này cho học sinh và nông dân làng Kế Môn chính là ông Hồ Huệ, một người dân của làng, hiện đang sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh. Hơn 10 năm trước, ông Hồ Huệ đã tặng khu đất và ngôi nhà rường cổ kính của gia đình mình để xây dựng thư viện làng, nhằm nâng cao văn hoá đọc cho bà con nông dân. Trước việc làm ý nghĩa của ông Huệ, thư viện Quốc gia đã hỗ trợ thêm nguồn sách. Tổ chức Leaf cũng có dự án hỗ trợ thư viện làng bằng việc hàng tuần cung cấp 3 đầu báo: văn hoá, nông nghiệp và sức khoẻ đời sống để phục vụ người dân.

Ngoài nguồn sách báo khá dồi dào, thư viện làng Kế Môn còn có 1 phòng trưng bày về nông cụ, mô tả những công việc đồng án của người nông dân.

Ông Nguyễn Thế, Phó phòng VHTT huyện Phong Điền, T-T Huế cho biết: “Tôi thấy duy trì thư viện làng là 1 việc làm cần thiết để phát triển nông thôn Việt Nam,, đặc biệt trong công cuộc xây dựng làng văn hoá hiện nay”.

Có thể nói, thư viện làng Kế Môn thật sự trở thành một địa chỉ văn hoá tin cậy, góp phần nâng cao đời sống văn hoá ở cơ sở, rút ngắn khoản cách giữa nông thôn và thành thị.
Theo VTV

Posted in Họ đã viết về làng ta | Leave a Comment »

THƯ VIỆN LÀNG KẾ MÔN

Posted by kemonnet trên 25/03/2010

BS HỒ ĐẮC DUY

Về Huế đi ra thị trấn Sịa qua đò Vĩnh Tu hay đò Ca Cút trên phá Tam Giang rồi đi hết làngThế Chí Tây là làng Kế Môn

Làng Kế Môn là một làng nổi tiếng không những ở miền trung mà là cả nước , ngôi làng có 3 di tích độc đáo đó là chùa Làng Kế Môn , Thư viện và Tổ đỉnh Kim hoàn, vùng đất này là quê hương của nghề kim hoàn Việt Nam, nơi sinh ra những người thợ kim hòan khéo tay với kỹ thuật điêu luyện, ngón nghề gia truyền …Những người thợ kim hoản của làng Kế Môn và các cửa hiệu của họ có mặt ở nhiều thành phố lớn như Saigòn Đà Lạt – Hà Nội Huế , Nghề kim hoàn của họ phát triển không chỉ ở trong nuớc mà còn khắp nơi trên thế giới như ở Hoa kỳ , họ có mặt từ Oakland – California cho đến Portland – Origan , Houston – Texas… chỗ nào có cộng đồng người Việt là có của hiệu của họ

Truyện kể về ông tổ nghề Kim Hoàn ở Huế , Vào cuối đời Chúa Nguyễn Phúc Khoát, có ông Cao Đình Độ (1746 ) người làng Cẩm Tú, tỉnh Thanh Hóa, sống bằng nghề bịt đồng thau như hàn khay đồng gãy, bịt chén kiễu bể … nhờ đôi bàn tay khéo léo, óc thẫm mỹ . sáng trí , chăm chỉ , ông được một người Tảu truyền nghề kim hoàn , cho sau trở thành một nghệ nhân đặc biệt., ông mang vợ và con vào Thuận Hóa, lập nghiệp tại làng Kế Môn , ( thuộc xã Điền Môn – huyện Phong Điền –Tỉnh Thừa Thiên ) Nhờ biệt tài và am hiểu nghệ thuật kim hòan , ông được vua Quang Trung trọng dụng cho làm trong ngành ngân tượng, là nơi chuyên làm đồ trang sức cho hoàng gia. Sau vua Gia Long lên ngôi ngành ngân tượng phát triễn nhiều hơn trở thành một ngành nghệ thuật cao . Ông Cao Đình Độ và con trai của ông là Cao Đình Hương (1773) có dịp thi thố tài năng Hiện tại những tác phẫm kim hoàn vào đầu triều đại nhà Nguyễn đều mang dáng dấp nghệ thuật tài hoa của gia đình ông.

Cả hai cha con được tôn vinh là đệ nhất và đệ nhị tổ sư nghề kim hoàn tại Huế. Lăng mộ của hai ông được kiến trúc rất công phu, với những nét hoa văn độc đáo.

Đến nay, giòng họ của ông đã truyền được hơn 7 đời, , Mỗi năm vào ngày giỗ tổ, các thợ kim hoàn khắp nơi thường tề tựu về tổ đình kim hoàn thăm viếng và dâng hương

Dịp giỗ tổ cũng là ngày bà con giòng họ họp mặt từ đó những công việc từ thiện , những hoạt động văn hóa xã hội của cộng đồng làng Kế Môn được đem ra bàn đến trong đó có việc thành lập Thư Viện làng Kế Môn .

Làng Kế Môn cũng còn nơi chôn rau cắt rốn của một nhân vật nỗi tiếng là Bs Hồ Tá Khanh vào dầu thế kỷ 20 . Năm 1926 ông tham gia lễ truy điệu ông Phan Châu Trinh, bị đuổi học, ông trốn sang Pháp sau học trường đại học Y khoa Paris, tốt nghiệp y khoa bác sĩ , ông là thành viên trong nhóm ông Phan văn Hùm

Năm 1942 ông cùng các bạn văn thành lập báo Văn Lang , năm 1945 được ông Trần Trọng Kim mời tham gia nội các với chức vụ bộ trưởng bộ kinh tế sau khi nội các của ông Trần Trọng Kim sụp đổ, viên cao ủy Pháp là Bollaert thỉnh cầu ông giữ một chức vụ quan trọng trong chính phủ Nam Kỳ nhưng ông từ chối

Trong một lần đi thăm các điểm để Tủ Sách Giải Trí Giáo Dục dành cho thiếu nhi ở nông thôn ở vùng Phong Diền , Quãng Điến chúng tôi được cư dân ở đây giới thiệu đến thăm thư viện làng Kế Môn

Dẫn vào làng Kế Môn là một con đường bê tông con đường này do một ngừoi dân của làng hiến tặng , nó mang tên “Đường bê tông Nguyễn Thanh Côn “, dài 2400 m, dọc đường, có đến mấy chục ghế đá kiểu công viên nằm cách nhau vài trăm mét , Ở giữa làng , bên đường người ta đọc thấy một tấm bảng màu xanh ghi : “Thư viện làng Kế Môn”

Thư viện làng Kế Môn là một ngôi nhà khang trang , thuộc xã Điền Môn, huyện Phong Điền là thư viện làng duy nhất tại Thừa Thiên-Huế , được thành lập năm 1999, do ông Hồ Huệ -một người thợ kim hoàn, khởi xướng và bỏ tiền xây dựng nhằm giúp bà con xóm giềng trong làng và người dân địa phương có cơ hội để đọc sách. Thư viện gốm có 2 nhà , ngôi nhà chính dùng làm thư viện và ngôi nhà nhò cho gia đình người thủ thư ở , phía trước là một khoảng sân , đến mùa gặt người ta phơi lúa ở đó

Bố trí trong thư viện là 2 kệ sách nhiều tầng , một tủ sách , một bàn dài , một bàn tròn với các ghế dựa bằng gỗ dùng cho độc giả

Thư viện Kế Môn bao gồm nhiều chủng loại sách từ lịch sử, văn chương, danh nhân, cho đến các loại các cẩm nang, sách nghiên cứu , sách học làm người, sách truyện , truyện tranh thiếu nhi , tạp chí … và một bộ sưu tập tem

Khi chúng tôi đến thăm là lúc thư viên mỡ cửa , người thủ thư là một phụ nử trẻ đang bế một cháu bé trên tay , chị ta chỉ cho chúng tôi mấy chổ để sách , rót nước mời chúng tôi rồi đi xuống nhà dưới

Tôi hỏi thăm , được biết chị chỉ là người coi sóc nhà cửa , xếp đặt sách vở cho ngay ngắn . quet tước bui bặm… Chị chưa được huấn luyện về một khóa học nghiệp vụ nào về thư viện

Chúng tôi ngồi lại xem cách xếp sách trên kệ , tiêu đề các sách , chủng loại…và hướng dẫn cho chi vài nét về căn bản về cách sắp xếp sách trên kê , phân loại sách , truyện , tạp chí … Chị rất vui khi được chúng tôi chỉ dẫn , chị là một phụ nữ thông minh chiu khó và hiếu khách

Chúng tôi nói với chị là chúng tôi sẽ tìm cho chị một ngân sách nhỏ và gởi chị lên thư viện huyên Quãng Điền trong vòng một tuần để học, ở đó chị sẽ được huấn luyện cách điều hành một thư viên như chi đang phụ trách , Khi về lại Saigòn chúng tôi gởi tặng cho thư viện làng Kế Môn 100 cuốn sách về văn học

Thư Viện làng Kế Môn là một thư viện mà ngẫu nhiên nó được hình thảnh từ những tấm lòng của người dân ,thư viên làng Kế Môn có thể là khuôn mẫu cho một ý tưởng phát triễn văn hóa , đưa hiễu biết , kiến thức về vùng quê …. Cũng là một hình thức giải trí cho người dân ở nông thôn , một điều mà cư dân làng Kế Môn đã và đang làm được

Những làng nỗi tiếng về ngành nghề truyền thống và văn hóa trên khắp đất nước như Bát Tràng , Quan Họ , Liễu Chàng …ở miền Bắc , Láng Bún , Hương Cần , Cầu Ngói Thanh Toàn ờ Huế , Cái Mơn , Giồng Trôm ,Thạnh Trị ở miền Nam chắc cũng đang hình thành một kiểu văn hóa này

Ở nước ta , cho đến năm 2003 có đến 74% dân số sống ở vùng nông thôn. Chính vì thế cuộc sống và tổ chức nông thôn ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến toàn xã hội.

Về mặt tổ chức xã hội, làng xã ở nước ta là hai đối tượng quan trọng nhất

Ở nông thôn gia tộc đóng vai trò rất quan trọng. , gia tộc còn quan trọng hơn cả gia đình . Mỗi gia tộc đều có trưởng họ còn gọi là tộc trưởng , có nhà thờ họ có gia phả Ở nhiều làng, hầu hết dân cư ở làng đó đều có quan hệ họ hàng với nhau. Cho nên tiếng nói của trửơng tộc nhất là quyết định của Hội Đồng Trưởng Tộc của làng có ảnh hưởng rất lớn trên sự phát triển nhất là về nếp sống văn hóa

Thư viện làng là một tổ chức rất phổ biến ở các nước đã phát triển , ở đó họ có những chương trình kèm theo như nhóm đọc sách giới thiệu những sách hay , lớp dạy nữ công gia chánh , cách nuôi dạy con cái , chiếu phim , lớp dạy dưởng sinh , tài chi ….là nơi gặp mặt của các người lớn tuổi

Đi thăm thư viện làng Kế Môn mới thấy hết tâm lòng , ý thức của dân làng là rất coi trọng cái chử , nhiều ngưới đã nói với tôi rằng trên đất nước ta ít làng nào có được một thư viện như làng Kế Môn cho dù dưới con mắt của một thủ thư chuyên nghiệp thì nó có vẽ nhếch nhác , thiếu khoa học…nhưng về mặt ý thức phổ biến kiến thức cho cộng đổng thì họ dáng được ghi công như những người khai phá tiên phong

Nếu trên đất nước ta , làng nào cũng có một thư viện hay một tủ sách dành cho cộng đồng như thư viện làng Kế Môn thì việc nâng cao dân trí , ý thúc về đạo đức , ý thúc về công dân …sẽ đi vào cuộc sống

Để xây dựng một thư viện như thư viên làng Kế môn quả thưc là không phải là khó chỉ cần có tiếng nói của hội đồng trưởng tộc là có thể thành lập được thư viện

Chúng tôi có thể tư vấn cho cho những nơi cần thực hiện chương trình thư viên làng hay tủ sách giải trí giáo dục cho trẻ con ở nông thôn

BS HỒ ĐẮC DUY

Email : hodacduy@saigonnet.vn
(Nguồn : http://www.xanga.com/tusachgiaitrigiaoduc)

Posted in Họ đã viết về làng ta | Leave a Comment »

Làng nghề kim hoàn

Posted by kemonnet trên 25/03/2010

Mặc dù chúng ta đã quá quen thuộc với những mặt hàng của đồ trang sức hoặc những vật dụng trang trí hay đồ mỹ nghệ bằng vàng bạc nhưng khi nói tới lịch sử, xuất xứ nghề kim hoàn ở nước ta, ít có người quan tâm tới.

Ở nước ta, hai kinh đô Thăng Long và Huế là nơi có lịch sử truyền thống lâu đời mang tính tập trung của những người thợ làm vàng bạc nổi tiếng, những nghệ nhân đó đã được lớp hậu duệ tôn thờ mãi cho tới ngày nay. Ở kinh đô Thăng Long trước đây, làng Đình Công Thượng là cơ sở phục vụ vàng bạc sớm nhất cho kinh thành Thăng Long. Dân gian kể lại rằng, vào cuối thế kỷ VI, ở làng Đình Công có ba anh em họ Trần là Trần Hòa, Trần Điện và Trần Điền, do nghèo khổ dưới ách thống trị của nhà Đường làm cho anh em họ Trần phải tha phương cầu thực tới một nước láng giềng, rồi từ đó họ học được nghề kim hoàn. Khi trở về quê hương, họ truyền nghề cho dân làng. Sau này làng Đình Công có nghề truyền thống vàng bạc phục vụ thị trường ở Thăng Long. Từ thế kỷ XVIII, XIX khi nền kinh tế Thăng Long, Hà Nội ngày một phát triển cao, những nghệ nhân này mới đi dần lên Thăng Long hành nghề bằng chuyên môn của mình là các đồ nữ trang như hoa tai, xuyến, vòng… ở phố Hàng Bạc ngày nay. Thế kỷ XV, khi ngành luyện kim ở nước ta tiến bộ, nghề đúc bạc nén bước vào giai đoạn mới, thoát thai từ làng Châu Khê (huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương). ( Nhiều tờ báo đăng nhầm là Trần Khê (huyện Bình Giang, tỉnh Hải Hưng) )

Dân gian kể lại rằng, dưới thới Lê Thánh Tông (1461) trong làng này có ông Lưu Xuân Tín được vua cho phép lập nên một tràng đúc bạc và tiền ở Thăng Long, sau đó làm tới chức Thượng Thư Bộ Lại, rồi được tôn làm thủy tổ của nghề đúc bạc. Về sau, người làng của ông ra Thăng Long hành nghề ngày càng đông. Phố Hàng Bạc được thành lập từ đó. Họ đã xây dựng nên các tràng đúc bạc (nay là 58 phố Hàng Bạc) làm nơi sản xuất. Hai ngôi đình: Thượng Đình (số 50 Hàng Bạc) và Kim Ngân Đình (số 42 Hàng Bạc) là nơi giao nộp thành phẩm cho Nhà nước đương thời. Qua thời gian, nhu cầu về vàng bạc càng ngày càng lớn. Phố Hàng Bạc còn có thêm một số nghệ nhân người làng Đồng Sâm (huyện Kim Sương, tỉnh Thái Bình) đến đây làm ăn sinh sống, với sở trường chạm trổ những đồ vật lớn bằng bạc như hộp trầu, chén bát dĩa, đỉnh, lư đèn…

Ông Tổ của phái này là Nguyễn Kim Lân, sống vào thế kỷ XV. Thời Trịnh Nguyễn phân tranh, các Chúa Nguyễn trị vì xứ Đàng Trong, nơi có nhiều mỏ vàng như Bồng Miêu, Trà Kiệu, vàng của dân tộc Chàm (Chămpa) do các vua chúa chôn giấu. Đến cuối đời Chúa Nguyễn Phúc Khoát, có ông Cao Đình Độ, sinh năm 1746, người làng Cẩm Tú, tỉnh Thanh Hóa, sống bằng nghề bịt đồng thau (hàn khay gãy, bịt chén bể) nhờ đôi tay khéo léo, thông minh sáng tạo, ông học nghề kim hoàn với một Hoa Kiều và đã trở thành một nghệ nhân đặc biệt. Sau đó thành nghề, ông mang vợ và con trai của ông là Cao Đình Hương (sinh năm 1773) vào Thuận Hóa, lập nghiệp tại làng Kế Môn (nay thuộc huyện phong Điền – Thừa Thiên Huế) được Hoàng đế Quang Trung triệu cả hai cha con vào cung, lập Cơ vệ ngành ngân tượng, chuyên làm đồ trang sức cho Hoàng Gia. Sau ngày Nguyễn Ánh chiếm Thuận Hóa, tất cả những thành tựu văn hóa được xây dựng thời Tây Sơn đều bị phá hủy. Riêng ngành ngân tượng vẫn giữ nguyên. Ông Cao Đình Độ và con trai của ông bị buộc phải tiếp tục phục vụ cho vua quan nhà Nguyễn.

Cả hai cha con đều được tôn vinh là đệ nhất và đệ nhị Tổ sư nghề kim hoàn tại Huế. Đến nay, truyền thừa đã được hơn 7 đời, phát triển vào khắp miền Trung và Nam, vào ngày giỗ Tổ, các thợ kim hoàn xuất xứ ở đây đều tựu về Tổ Đinh kim hoàn thăm viếng và dâng hương đông đảo. Lăng mộ của hai ông được kiến trúc công phu, trang trọng, bề thế và đẹp đẽ. Chất lượng của vàng bạc rất phức tạp, chúng ta có vàng lá (còn gọi là vàng điệp, vàng 10 tuổi dưới dạng lá mỏng, như vàng lá Kim Thành). Vàng nén (hay còn gọi là vàng ròng, dưới dạng thỏi, mỗi thỏi nặng mỗi yến, theo cân Trung Quốc). Vàng Hời (vàng chôn dưới đất lâu năm của dân Chàm ngày xưa, vàng này có pha lẫn với nhiều bạc, nên có màu vàng xanh, từ 6 đến 6,5 tuổi, thường đào lên gặp quả cau, con rùa, con cua, buồng chuối, ông Phật…) Vàng Bồng Miêu (hiện đang khai thác quy mô ở Quảng Nam – Đà Nẵng, đó là loại vàng sa khoáng, có dạng hạt tấm, bụi cát, lẫn trong đất cát hoặc ẩn bên trong đá). Vàng Tây rất nhiều loại, người ta đánh giá vàng Tây bằng Karat (khác với karat đo trọng lượng hạt xoàn), có 10K, 12K, 14K, 16K, 18K, 20K, 24K. Có loại nhập cảnh dưới dạng nữ trang, có loại hộp chế gồm hợp kim đồng, bạc với vàng ta, để thành vàng Tây. Vàng hóa học thường dùng trong mỹ nghệ, thường điều chế để bịt răng hoặc trang trí dưới nước, loại vàng này ở dưới nước vẫn bóng loáng quanh năm, gặp không khí lâu ngày sẽ bị thâm đen. Đồng thòa (còn gọi là Đồng xứng, là hợp kim 50% vàng ta, 50% đồng đỏ, vàng thường làm bông tai để đeo). Vàng chân là loại trang sức bên trong bằng bạc hoặc đồng, nên ngoài chỉ đọc một lớp vàng như khâu chấn, bông búp chấn. Vàng xi mạ (dùng dòng điện xúc tác bao phủ một lớp vàng thật mỏng trên đồ trang sức bằng bạc hay đồng, thoạt trông như đồ vàng thật).

Thợ kim hoàn ở tỉnh nào cũng có, mà tập trung nhiều nhất là ở TP.Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ… sản xuất các mặt hàng nữ trang tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.

(Nguồn :http://www.chaukhe.com/SKVC/ha-noi-lang-nghe-kim-hoan/1518/vi/ )

Posted in Họ đã viết về làng ta, Nghề truyền thống-Đặc sản, Địa lý-Lịch sử | Leave a Comment »

Lễ Thu tế làng Kế Môn

Posted by kemonnet trên 25/03/2010

– Tên : Lễ Thu tế làng Kế Môn
– Loại lễ hội : Truyền thống
– Thời gian tổ chức : 8/ÂL
– Địa điểm tổ chức : Đình làng Kế Môn, huyện Phong Điền
– Đối tượng được tưởng niệm: Các vị tổ tiên
– Nội dung: Nghi thức cổ truyền

(Nguồn : http://www3.thuathienhue.gov.vn/GeographyBook/Default.aspx?sel=3&id=457)

Posted in Con người-Văn hóa, Họ đã viết về làng ta, Nghề truyền thống-Đặc sản, Địa lý-Lịch sử | Leave a Comment »

Nghề Kim hoàn Kế Môn

Posted by kemonnet trên 25/03/2010

Cách trung tâm thành phố Huế khoảng 40km về phải Đông-Bắc là làng Kế Môn, xã Điền Môn, huyện Phong Điền. Nơi đây nổi tiếng có nghề kim hoàn. Nghề kim hoàn ở Kế Môn là nghề gia công cổ truyền đồ trang sức, trang trí bằng chất liệu vàng hoặc bạc, bao gồm ba bộ phận:

– Ngành trơn: là người thợ sản xuất các sản phẩm đơn giản, không chạm trổ nhiều.

– Ngành đậu: thường làm các hình hoa văn kỷ hà để gắn lên mặt sản phẩm.

– Ngành chạm: chạm trổ các hình và hoa văn trên các sản phẩm.

Các sản phẩm kim hoàn ở đây đã đáp ứng được nhu cầu về trang sức, trang trí của cư dân và quan lại ở chốn kinh thành Huế ngay từ cuối thế kỷ XVIII do nhiều người thợ kim hoàn từ phương Bắc vào, tiêu biểu là ông Cao Đình Độ quê ở Thanh Hóa đã đến định cư ở làng Kế Môn hành nghề kim hoàn và mở lớp truyền dạy cho các thế hệ con cháu.

Sản phẩm kim hoàn ở Kế Môn nổi tiếng có chất lượng tốt so với nhiều nơi khác với kỹ thuật tay nghề tinh xảo và chạm khắc cầu kỳ được làm ra bởi những người thợ có kinh nghiệm, khéo tay và giàu khiếu thẩm mỹ sáng tạo, thể hiện rõ nhất là trên các đồ trang sức như vòng, kiềng, nhẫn, lắc, dây chuyền, khuyên tai bằng vàng hoặc bạc.
Hiện nay, nhiều người thợ kim hoàn ở làng Kế Môn đã hành nghề phân tán ở nhiều nơi, nhất là ở thành phố Huế, hầu hết các cửa hiệu bán vàng bạc đều là người gốc Kế Môn. Nghề kim hoàn ở Huế ngày càng phát triển đáp ứng nhu cầu xã hội về vấn đề trang sức, trang trí hiện nay.
(Nguồn : http://maxreading.com/?chapter=4178)

Posted in Họ đã viết về làng ta, Nghề truyền thống-Đặc sản, Địa lý-Lịch sử | Leave a Comment »