Làng Kế Môn

Có nghề kim hoàn-Có nước mắm ngon tuyệt vời

Con người-Văn hóa

Advertisements

2 phản hồi to “Con người-Văn hóa”

  1. kemonnet said

    Truyền thống thi thư tạo nên một thiên tài Ngô Bảo Châu
    03/02/2011 10:15

    Hai ông bà Ngô Huy Cẩn – Trần Lưu Vân Hiền đang tìm lại những ngày tháng bình yên trong căn nhà mới. Ảnh: Giang Huy
    Với câu hỏi “vai trò của gia đình đã quyết định như thế nào trong việc tạo nên một thiên tài toán học Ngô Bảo Châu ngày nay”, PGS-TS Trần Lưu Vân Hiền – mẹ của GS Châu – khẳng định: “Chúng tôi không có một cách giáo dục nào đặc biệt”.
    Những dòng họ “thi thư”

    “Không có điều gì đặc biệt trong cách giáo dục của gia đình chúng tôi với Châu cả” – bà Hiền chậm rãi mở đầu cuộc trò chuyện. “Có lẽ, những gì tạo nên một Ngô Bảo Châu hôm nay được hun đúc, truyền qua từ nhiều thế hệ của hai dòng họ với truyền thống “thi thư” có từ rất lâu đời. Tôi tin là, chính ân đức của tổ tiên đã giúp Châu có được thành công như ngày hôm nay” – bà nhấn mạnh.

    Xin được trích lược những kết quả sưu tầm khá công phu về hai dòng họ Ngô (họ nội) và Trần Lưu (họ ngoại) do những người bạn của hai ông bà thực hiện. Theo đó, cao tổ họ nội của GS Châu là cụ Ngô Phúc Xuyến (quê ở Thanh Hóa), là bậc trung nhân, đỗ Hương cống, làm học quan giữ chức Huấn đạo đời Hậu Lê. Vào khoảng năm 1616, cụ mở trường dạy học ở thôn Tảo Khê, xã Tảo Dương Văn, huyện Ứng Hòa, Hà Tây (nay là Hà Nội). Hiếu học đã thành truyền thống lâu đời của họ Ngô. Nhà thờ họ Ngô vẫn còn lưu giữ “giáo huấn dòng tộc”, xin chép lại như sau:

    “Phúc Xuyến” Ngô tộc chốn từ đường
    Tiên tổ nguồn khơi những tấm gương
    Tiền đại cổ nhân lưu đức trạch
    Hậu nhân kết thiện tại thư hương
    Kiệm, cần, liêm, chính trọn trung hiếu
    Tín, nghĩa, nhân, luân vẹn kỷ cương
    Gia giáo tử tôn luôn tiếp bước
    Kế thừa truyền thống nghiệp văn chương.

    Theo Ngô tộc phả, đời thứ 14 họ Ngô nở rộ sự nghiệp “Tiến vi quan, đạt vi sư”, trong đó nổi bật là GS Ngô Thúc Lanh với cuốn sách “Đại số tuyến tính” là một trong những cuốn sách nằm lòng về toán học. GS-TSKH Ngô Huy Cẩn – con trai thứ ba của cụ Ngô Huy Tân, thân phụ của GS Ngô Bảo Châu – cũng là một trong những nhà cơ học hàng đầu của Việt Nam.
    Có lẽ, chính truyền thống thi thư của cả họ nội và họ ngoại là một trong những yếu tố quyết định tạo nên một Ngô Bảo Châu. Châu có được như ngày hôm nay chính là nhờ ân đức của tổ tiên.
    Về phía họ ngoại, cũng theo tài liệu này, cao tổ họ Trần là cụ Trần Xỉ, quê Thanh Hóa, là nghĩa dũng quân thời Hậu Lê. Năm 1558, cụ cùng Chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa. Sau đó, cụ ở lại khai hoang, lập ấp, nay là làng Vĩnh Xương, xã Điền Môn, huyện Phong Điền, Thừa Thiên – Huế.

    Các thế hệ họ Trần ở Hà Nội cũng có nhiều người tài đức, thành danh như cụ Trần Gia Chiểu (đời 12) được nhà vua ban chiếu thụ chức Hàm Chủ sự ty Bộ Công lĩnh tri Bộ Thủy quân năm 1832; Tư thiên Đại phu Lễ Bộ Thượng thư năm 1838. Phần mộ của cụ nay vẫn còn ở chợ Châu Long (HN). Đến đời thứ 13, cụ Trần Gia Minh – con thứ hai của cụ Trần Gia Chiểu đỗ tú tài vào các năm 1855, 1858, 1864 và cử nhân vào năm 1867, được Vua Thành Thái bổ nhiệm làm quan với các trọng trách khác nhau.

    Dưới triều Nguyễn, học vị Trạng nguyên bị bãi bỏ. Vì vậy khoa thi vào khoảng thập niên 70 thế kỷ XIX, cụ Trần Gia Minh đỗ đầu và được nhận học vị Đông các Đại học sĩ, hàm Thái tử Thiếu bảo, chuyên dạy cho thái tử triều Nguyễn. Sau đó, cụ được Vua Thành Thái bổ nhiệm các chức vụ Tổng đốc 2 tỉnh Bình Định, Phú Yên; sau đó là Tổng đốc Nghệ An, rồi tới Hà Giang, Yên Bái, Sơn Tây, Hưng Hóa và Tuyên Quang. Năm 1887, cụ nhận chức Thị lang Bộ Hộ. Năm 1888, được Vua Đồng Khánh giao trông coi Nha Kinh lược xứ Bắc Kỳ. Do có nhiều công đóng góp với triều đình, cụ được Vua Thành Thái ban cho tên mới là Trần Lưu Huệ. Từ đó, hậu duệ họ Trần ở Hà Nội có tên đệm là Trần Lưu…

    Ông ngoại – người bạn tâm giao

    Được phỏng vấn ngay sau khi nhận Huy chương Fields lại Hyderabat (Ấn Độ), GS Ngô Bảo Châu đã nhắc tới ông ngoại, một trong hai người có ảnh hưởng nhất với anh. Dù ông đã mất được 10 năm trước khi GS đạt đến vinh quang tột đỉnh trong sự nghiệp, nhưng hình ảnh một người ông ngoại hiền từ, mẫu mực vẫn luôn là “thần tượng” trong con mắt nhà toán học trẻ. Ông Trần Lưu Hân (đời 15) là con thứ sáu của cụ Trần Lưu Thứ. Ông là kỹ sư vô tuyến điện. Nhưng trước Cách mạng tháng 8, ông là hiệu trưởng trường tư thục đầu tiên ở phố Bạch Mai, có tên gọi là trường Chu Văn An Villa Vĩnh Hồ.

    Bà Hiền nhớ lại, những ngày Châu mới sinh, bố đi bộ đội vắng nhà, chỉ có hai mẹ con ở với ông bà ngoại ở 47 Hàng Bài. Vì là cháu đầu nên Châu rất được ông ngoại chăm chút. Khi kèm học, ông như người thầy. Những lúc đánh cờ, hai ông cháu lại như những người bạn tâm giao. Những lần đi thi học sinh giỏi, Châu đều nằng nặc nhờ ông đưa đi để “lấy may”.

    Ba tháng trước cuộc sát hạch quan trọng để chuẩn bị sang Pháp học, ông ngoại cũng chính là gia sư “luyện cấp tốc” tiếng Pháp cho cháu. Ngày ông mất, GS Châu đang ở nước ngoài không về được, đã gửi về một lá thư khóc ông, trong đó có chép bài “Tống biệt hành” của Thâm Tâm. Với GS Châu, từ lâu ông ngoại đã thực sự trở thành một người bạn tâm giao, tri kỷ.

    Cũng không thể không nhắc tới tầm quan trọng của người mẹ trong sự phát triển nhân cách của GS Châu. Nếu như người cha, với một trí tuệ ưu việt, truyền cho con trai ngọn lửa đam mê toán học thì người mẹ – một người con gái đất Hà thành – đã truyền hơi ấm và nhân cách văn hóa toàn diện (thi, thư, lễ, nghĩa) cho Ngô Bảo Châu. Thời trẻ, bà được gia đình cho học vẽ, được học nhạc (cello). Từng đi thi học sinh giỏi văn, nhưng sau này lại thành đạt trong lĩnh vực y dược học, bà luôn là chỗ dựa tinh thần cho GS Châu và gia đình. Các con của GS Châu khi mới lọt lòng đều được gửi về để ông bà dạy dỗ và khi đã khôn lớn, chúng lại quay về với bố mẹ.

    Theo Hải Phong
    Lao Động Xuân 2011
    Nguon : http://www.thanhnien.com.vn/News/Pages/201106/20110202105925.aspx 03/02/2011 10:15

  2. kemonnet said

    Người thợ cuối cùng của nghề độc nhất vô nhị
    Không chỉ nổi tiếng bởi đạt được nhiều thành công trong nghề, ông còn là người duy nhất nắm giữ ngón nghề tuyệt chiêu ở Việt Nam không còn ai làm được, nghề “đậu” của kim hoàn.
    > Nghệ nhân 82 tuổi thêu bài thơ bằng 14 thứ tiếng

    Ở tuổi 79, nghệ nhân dân gian Trần Hữu Nhơn vẫn cần mẫn với những tác phẩm kim hoàn mà theo ông “làm để cho con cháu đời sau!”.

    Trong căn nhà nhỏ tọa lạc giữa khu vườn rộng trên đường Đào Duy Anh (thành phố Huế), lão nghệ nhân gây ấn tượng với khách bằng sự tinh nhanh và đôi bàn tay như múa lượn trên từng họa tiết của bức tranh “Chùa Một Cột” bằng chất liệu bạc.

    Lão nghệ nhân dân gian Trần Hữu Nhơn đang tỉ mỉ hoàn thành công đoạn cuối của tác phẩm “Chùa một cột” bằng nghề “đậu”. Ảnh: Văn Nguyễn.
    Ông bảo cả đời chỉ làm đúng một nghề kim hoàn. “Tác phẩm ‘Chùa Một Cột’ hoàn thành là cả tâm nguyện của tôi bao năm ấp ủ. Nó tạo cho tôi cảm hứng mạnh mẽ, bởi khi làm nó tôi hướng cả tấm lòng về thủ đô mến yêu, tự hào về dân tộc Việt Nam trường tồn, thịnh vượng”, ông Nhơn nói.

    Lão nghệ nhân cho biết, thợ kim hoàn chia làm ba nghề gồm: trơn, chạm và đậu. Trơn là kiểu tạo hình có tính cơ bản mà người thợ nào cũng trải qua và làm được. Chạm là dùng vật nhọn để khắc vẽ lên sản phẩm. Đậu là kỹ thuật kéo sợi kim loại ra từng sợi mảnh như tơ để tạo nên một tác phẩm kim hoàn. Đậu phải làm thủ công chứ không thể bằng máy. Ông Nhơn đã chọn nghề đậu để đeo đuổi.

    Ông Nhơn đến với nghề kim hoàn như một sự sắp đặt. Mồ côi cha từ khi lên 4, mẹ đã gửi ông sang nhà ngoại ở làng Minh Hương xã Hương Vinh (Hương Trà, Thừa Thiên – Huế). Được cậu ruột là Hoàng Tấn Ích, một chủ xưởng bạc, truyền dạy nghề, ông bắt đầu làm nghề từ đó.

    Để mở mang kiến thức, nâng cao tay nghề, ông Nhơn lên phố xin làm ở tiệm vàng Vĩnh Mậu, một trong ba tiệm vàng nổi tiếng, tập trung thợ giỏi nhất ở Huế lúc bấy giờ. Với sự khéo léo, thông minh, cộng thêm đức tính cần cù, ông được nâng lên hàng thợ cả. Khi tay nghề đã cứng, ông ra riêng và mở hàng kinh doanh vàng bạc mang tên Vĩnh Long.

    Đôi bàn tay của ông lão tuổi 79 vẫn điêu luyện trong từng đường nét. Ảnh: Văn Nguyễn.
    Với ngón nghề “đậu” độc nhất vô nhị, ông được rất nhiều người biết đến, thuê làm những thứ hàng có độ tinh xảo cao. Ban đêm ông còn mở lớp truyền nghề cho thế hệ trẻ tại nhà. “Hồi đó đâu có máy móc như bây giờ, tất cả công đoạn phải làm bằng tay. Hơi cũng phải dùng miệng thổi qua ngọn lửa đèn dầu vào cho vàng bạc nóng chảy rồi thực hiện kéo sợi hoặc hàn, dát”, ông cho biết.

    Hơn 60 năm làm nghề, ông Nhơn đã có hàng trăm tác phẩm tinh xảo được công chúng đón nhận và đánh giá cao. Với riêng ông, tượng Phật bà Quan Âm là tác phẩm tâm đắc nhất. Tác phẩm này đã giành giải nhì trong Hội thi sản phẩm thủ công Việt Nam, do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức vào năm 2008.

    “Tác phẩm này được tôi dày công thực hiện trong nhiều tháng trời bằng nghề đậu, với công cụ thủ công. Có rất nhiều người đến xem bức tranh này và ngỏ ý mua với giá hàng chục nghìn đôla nhưng tôi từ chối. Bởi nó là đứa con tinh thần đã mang lại cho tôi nhiều niềm vui và sự may mắn mà không tiền bạc nào có thể mua được”, ông Nhơn nói.

    Trong căn phòng khách ấm cúng của ông có đầy đủ bộ sưu tập giấy chứng nhận danh hiệu, nào là bằng chứng nhận danh hiệu nghệ nhân dân gian của Hội văn nghệ dân gian Việt Nam; bằng chứng nhận sản phẩm thủ công tiêu biểu quốc gia, danh hiệu nghệ nhân Thừa Thiên – Huế… Ông cũng được các nghệ nhân kim hoàn bầu làm tộc trưởng tộc kim hoàn Huế.

    Tác phẩm tượng Phật bà Quan Âm của nghệ nhân Trần Hữu Nhơn đoạt giải nhì trong Hội thi sản phẩm thủ công Việt Nam năm 2008. Ảnh: Văn Nguyễn.
    Ông Nhơn khẳng định nghề kim hoàn truyền thống không có nhiều lý thuyết hay bí quyết gia truyền như các nghề. Điều ông trăn trở nhất là nghề “đậu” đang đứng trước nguy cơ thất truyền, bởi không chỉ ở Huế mà toàn quốc, ngoài ông ra giờ chẳng ai làm được. Hai người con trai của ông là anh Trần Quang Tuấn và Trần Quang Minh đang nối nghiệp cha làm nghề kim hoàn, nhưng ngón “đậu” tuyệt kỹ của cha, các anh chưa nắm bắt hết.

    Mới đây, anh Trần Quang Tuấn, con trai thứ bảy của ông Nhơn đã hoàn thành bức tranh “Bồ Đề Đạt Ma”, làm bằng chỉ bạc tạo hình rất ấn tượng. Nhưng theo ông Nhơn kỹ thuật để làm ra tác phẩm này còn cậy nhiều vào cha. “Tuy nhiên đây là tín hiệu tốt để nó có thể thay tôi nối dài tuổi thọ nghề đậu”, ông Nhơn nói giọng phấn khởi.

    Ngoài thời gian dành cho các mặt hàng trang trí, trang sức vàng, bạc, ông Nhơn còn có sở thích nghe nhạc và sưu tầm những bản nhạc xưa, dàn âm thành cổ. Ông có thể ngồi hàng giờ trong phòng để nghe những bản nhạc trữ tình du dương như gợi nhớ về một thời xa vắng.

    Nói về những dự định trong năm mới, nghệ nhân Trần Hữu Nhơn tâm sự: “Tới đây, tôi sẽ tiếp tục thực hiện tác phẩm về chùa Thiên Mụ như để cảm ơn mảnh đất kinh kỳ này. Đồng thời tôi sẽ thành lập một phòng trưng bày tác phẩm của mình tại nhà riêng để bạn bè, con cháu có thể đến xem và trao đổi kinh nghiệm mong làm sống dậy nghề đậu”.

    Văn Nguyễn

    Nguon : http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/2011/02/3ba261fe/ Chủ nhật, 6/2/2011, 08:59 GMT+7

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: